Hội chứng Klinefelter – Thế giới của những người đàn ông mang gen nữ

Hội chứng Klinefelter có lẽ không được biết đến rộng rãi như những hội chứng bẩm sinh thường gặp (Down, Edwards, Patau), thế nhưng Klinefelter lại là “cơn giông bão” trong lòng của những người đàn ông phải sống trong cảnh “làm chồng không trọn vẹn” bởi cơ thể họ… mang gen nữ.

Hội chứng Klinefelter là gì?

Hội chứng Klinefelter là hội chứng xảy ra do tình trạng không phân li nhiễm sắc thể ở nam giới, người mắc Klinefelter thay vì có một nhiễm sắc thể giới tính X thì có 1 cặp nhiễm sắc thể X và đồng thời mắc phải một số nguy cơ về bệnh lý y học.

Theo quy luật di truyền, nhiễm sắc thể giới tính nữ được quy định là XX, nam là XY. Những người nam mắc hội chứng Klinefelter do kiểu sắp xếp nhiễm sắc thể XXY – một dạng biến thể di truyền thường gặp ở nhiễm sắc thể giới tính của nam giới. Thống kê cho thấy, tỷ lệ trẻ nam sinh ra mắc phải hội chứng này ở khoảng 1:500 – 1:1000 trẻ trên tổng số khoảng 3000 trẻ sinh ra mỗi năm (số liệu thống kê tại Hoa Kỳ).

Những trường hợp có nhiều hơn một nhiễm sắc thể X, thì chỉ có một nhiễm sắc thể X ở trạng thái hoạt động, còn những nhiễm sắc thể X còn lại bất hoạt hoặc hầu như không được biểu hiện. Chính vì vậy, những người nam có nhiễm sắc thể XXY, hay nữ giới (XX) cũng như vậy. Tuy nhiên, một trong số ít gen đó vẫn được biểu hiện ngay cả khi chúng nằm trên nhiễm sắc thể X không hoạt động.

Hội chứng Klinefelter

Một vài nguyên nhân chủ yếu của hội chứng Klinefelter

Nguyên nhân chủ yếu của hội chứng này do lỗi không phân li trong quá trình tạo giao tử ở cha mẹ, gồm có suy sinh dục, vú to, và rối loạn tâm lý xã hội. Hội chứng này là hình thức suy tinh hoàn nguyên phát, tăng mức gonadotropin do thiếu phản hồi ngược từ tuyến yên. Thiếu hụt androgen cũng gây tỉ lệ các phần trên cơ thể giống người bị hoạn

Tỷ lệ xảy ra đột biến

Theo nghiên cứu cho thấy, có đến 50 – 60% trường hợp người mắc hội chứng Klinefelter không phân li nhiễm sắc thể xảy ra ở mẹ. 75% do lỗi phân bào giảm nhiễm I. Những trường hợp còn lại xảy ra do không phân li ở người cha.

Kiểu nhân thường gặp

Kiểu nhân thường gặp nhất của hội chứng này là 47,XXY – Chiếm đến 80 – 90% trong tổng số các trường hợp.
Thể khảm 46,XY/ 47,XXY thường gặp chiếm khoảng 10%. Có thể xảy ra ở hợp tử 46,XY hoặc 47,XXY, rối loạn phân bào sau khi thụ tinh tạo hợp tử.
Các thể khác như 48,XXYY, 48,XXXY, 49,XXXXY thường rất hiếm.

Ảnh hưởng của Klinefelter ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh

Hội chứng Klinefelter ảnh hưởng đến khả năng phát triển của người bệnh, tinh hoàn kém phát triển, kích thước nhỏ so với người bình thường. Hormone testosterone ở nam giới giảm làm tăng nguy cơ rối loạn tự miễn như lupus ban đỏ, viêm khớp dạng thấp,…

Tùy vào mức độ ảnh hưởng của người bệnh mà bệnh có những tác động và biểu hiện khác nhau. Thông thường, hội chứng Klinefelter không được chẩn đoán cho đến tuổi trưởng thành, những người đàn ông mắc hội chứng này có ít hoặc không có tinh trùng, gây rối loạn tạo ống sinh tinh và vô sinh, cũng như dị dạng và thiểu sản cơ quan sinh dục ở nam đa nhiễm X; lông ở mặt, nách, mu và thân mình thưa thớt hoặc không có; vú to; tinh hoàn và dương vật nhỏ; giảm khoái cảm tình dục; phân bố mô mỡ theo kiểu phụ nữ; giảm sức chịu đựng thực thể; loãng xương. Việc mất ống sinh tinh và tế bào Sertoli dẫn đến giảm mức inhibin B, chất điều hoà hormone FSH. Đối với những người có ít tinh trùng có thể lựa chọn những biện pháp hỗ trợ sinh sản và vẫn có được cơ hội làm cha.

Không chỉ ảnh hưởng đến người bệnh bởi những chức năng sinh dục, sự thêm một hoặc nhiều nhiễm sắc thể X (hoặc Y) còn gây ra những bất thường về trí tuệ và nhận thức khác nhau. Những bất thường xương, tim mạch cũng nặng và mức độ ảnh hưởng nhanh hơn bình thường. Chỉ số (IQ) giảm khoảng 15 điểm cho mỗi nhiễm sắc thể X vượt mức bình thường. Tất cả các khu vực phát triển chính, gồm ngôn ngữ và sự phối hợp diễn đạt, tiếp thu cũng bị ảnh hưởng.

Hội chứng Klinefelter

Dấu hiệu và triệu chứng của hội chứng Klinefelter

Thông thường, những nam giới mắc hội chứng Klinefelter không được chẩn đoán cho đến suốt đời, một số khác nhận ra được sự khác biệt về sự phát triển bên trong cơ thể thường thực hiện chẩn đoán ở tuổi trưởng thành. Những người mắc hội chứng vẫn sống và sinh hoạt, trí thông minh bình thường hoặc chậm phát triển tâm thần (tùy mức độ) ,tỷ lệ tử vong không cao hơn so với những người bình thường.

Một vài hình dáng biểu hiện bên ngoài

Trẻ mới sinh ra, trẻ sơ sinh có những chỉ số chiều cao, cân nặng, vòng đầu bình thường. Có khoảng 25% trẻ có biểu hiện lệch ngón (Clinodactyly), chiều cao cao hơn mức trung bình, tay chân dài và không cân đối, không theo tỷ lệ thông thường của cơ thể.

Khoảng 40% bệnh nhân mắc hội chứng răng bò (Taurodontism – răng hàm phình to do tủy nở rộng) trong khi ở những người nam (XY) chỉ khoảng 1%.

Một vài biểu hiện về trí tuệ

Có đến 70% bệnh nhân bị ảnh hưởng nhẹ đến tâm thần và khả năng học tập, khó học ngôn ngữ, nói muộn, giảm trí nhớ ngắn hạn, khó đọc, rối loạn đọc, giảm khả năng chú ý. Bệnh nhân gặp một vài biểu hiện hành vi rối loạn tâm lý, lo lắng, trầm cảm, loạn thần kinh chức năng (Neuchosis).

Nguy cơ mắc những hội chứng khác

  • Vào giai đoạn trễ của tuổi dậy thì, khoảng 30-50% trẻ nam mắc hội chứng Klinefelter biểu hiện vú to thứ phát do tăng estradiol và tăng tỷ lệ estradiol/testosterone. Nguy cơ phát triển carcinoma vú cao hơn ít nhất 20 lần so với người bình thường.
  • Loạn sản tinh hoàn (tinh hoàn nhỏ, chắc, kích thước <10ml) có thể có ở bệnh nhân sau dậy thì.
  • Vô sinh, vô tinh trùng có thể do bất sản teo ống sinh tinh. Vô sinh gặp ở tất cả bệnh nhân 47,XXX; ở bệnh nhân thể khảm 46,XY/47,XXY có thể còn khả năng sinh sản.
  • Tăng tần suất u tế bào mầm ngoài sinh dục như carcinoma phôi, u quái và u tế bào mầm trung thất nguyên phát.
  • Về các rối loạn tuần hoàn và tim, sa van hai lá gặp ở 55% bệnh nhân.
  • Giãn tĩnh mạch ở 20 – 40%, loét tĩnh mạch 10-20 lần cao hơn bình thường, nguy cơ huyết khối tĩnh mạch sâu và thuyên tắc phổi tăng.
  • U tế bào mầm sinh dục và ngoài sinh dục (u tế bào mầm trung thất, u quái, carcinoma quái, carcinoma đệm nuôi) cũng có thể xảy ra.
  • Sụp cột sống có thể do loãng xương.
  • Phát triển giãn tĩnh mạch và loét chân do ứ đọng tĩnh mạch.
  • Các bệnh nội tiết có liên quan gồm đái tháo đường, suy giáp, hội chứng hố yên rỗng, suy cận giáp, dậy thì sớm liên hệ với u tế bào mầm tạo hCG.
  • Tăng sinh tuyến tiền liệt lành tính có thể do cung cấp testosterone.

Hội chứng Klinefelter

Phương pháp phát hiện hội chứng Klinefelter

Phát hiện Klinefelter cho thai nhi bằng phương pháp sàng lọc không xâm lấn NIPT – illumina

Ngay từ khi mang thai, trong máu người mẹ đã có sự xuất hiện ADN tự do của thai nhi, tỷ lệ ADN tự do của thai nhi thay đổi theo từng tuần thai (trung bình khoảng 10%). Phương pháp này thực hiện phân tích ADN tự do của thai nhi có trong máu mẹ ngay từ tuần thai thứ 10 để sàng lọc những hội chứng di truyền cho thai nhi, trong đó có bất thường nhiễm sắc thể giới tính gây nên hội chứng Klinefelter. Xét nghiệm cho kết quả chính xác cao – lên tới hơn 99,9%.

Phát hiện Klinefelter bằng xét nghiệm ADN chẩn đoán bệnh di truyền

Xét nghiệm chẩn đoán bệnh di truyền được thực hiện bằng cách phân tích ADN để phát hiện những bất thường số lượng nhiễm sắc thể gây ra những hội chứng di truyền. Xét nghiệm di truyền có thể thực hiện bất cứ khi nào, không phân biệt độ tuổi, người thực hiện xét nghiệm không cần phải kiêng, nhịn ăn hay làm lựa chọn thời điểm xét nghiệm (vào buổi sáng) như những xét nghiệm máu khác.

Một số phương pháp chẩn đoán bệnh khác

  • Đo định lượng hormone trong máu cho thấy nồng độ FSH, LH, estradiol tăng trong huyết tương, testosterone giảm ở bệnh nhân trong giai đoạn từ 12 – 14 tuổi. Đáp ứng tăng testosterone khi tiêm hCG ở mức dưới bình thường. Gonadotropin niệu tăng do bất thường chức năng tế bào Leydig, tỉ lệ hydroxyl proline/creatinine tăng, phản ánh giảm tạo xương và tăng tái hấp thu xương,…
  • Khảo sát hình ảnh cho thấy sa van hai lá trên siêu âm, giảm mật độ xương chi dưới, dính xương quay trụ, và răng bò trên X quang.
  • Thực hiện khảo sát mô học cho thấy: Tinh hoàn nhỏ, hiện tượng hyalin hóa, xơ hoá và teo ống sinh tinh kèm tăng sản khu trú của các tế bào Leydig hầu hết đã bị thoái hoá. Hiện tượng sinh tinh trùng hiếm. Ở bệnh nhân thể khảm, hyalin hóa và thoái hoá tiến triển ống sinh tinh xảy ra sau dậy thì mặc dù lúc dậy thì tinh hoàn có kích thước bình thường và có hiện tượng sinh tinh trùng,…

Hướng điều trị Klinefelter

Mặc dù không thể chữa khỏi, nhưng những người bệnh mắc hội chứng Klinefelter nếu được phát hiện sớm ngay từ trước tuổi dậy thì sẽ có khả năng được điều trị với những ảnh hưởng như: Thiểu năng sinh dục, vú to, hỗ trợ điều trị các vấn đề tâm lý xã hội.

Có thể nói, trị liệu androgen là hướng điều trị quan trọng nhất. Thực hiện điều trị bằng thay thế testosterone bắt đầu ngay từ khi dậy thì để “sửa chữa” những thiếu hụt androgen, mang lại nam tính thích hợp. Tiêm testosterone đều đặn giúp tăng cường sức mạnh và mọc lông mặt, tạo dáng vẻ cơ bắp cho cơ thể, tăng ham muốn tính dục, tăng kích thước tinh hoàn, cải thiện tính khí, hình ảnh bản thân và hành vi, và bảo vệ chống lại loãng xương sớm,…

Phẫu thuật có thể được chỉ định đối với chứng vú to. Biểu hiện này gây căng thẳng, tự ti cho người bệnh và làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú.

Hội chứng Klinefelter xảy ra do bất thường số lượng nhiễm sắc thể giới tính, việc thực hiện sàng lọc trước sinh không xâm lấn NIPT – Illumina ngay từ tuần thứ 10 là xét nghiệm cần thiết để mẹ bầu có thể xác định được tình trạng sức khỏe của thai nhi một cách chính xác, để từ đó, bác sĩ chuyên khoa có thể tư vấn những hướng điều trị kịp thời, người mẹ mang thai và gia đình có những hướng chăm sóc thai nhi phù hợp nhất để giảm tối đa những rủi ro không đáng có.